TÁC GIẢ - TÁC PHẨM

Duyệt binh trong hoà bình

Chuyến đi này với Mai mang một ý nghĩa thật đặc biệt. Lần đầu tiên cô được đi cùng các nhà văn, nhà thơ là cựu chiến binh của hai đất nước đã từng đối đầu với nhau trong cuộc chiến từ hơn nửa thế kỷ trước. Chuyến đi mang tên “Duyệt binh trong hoà bình”.

Mai lên tàu Thống Nhất từ ga Hàng Cỏ. Cô bước lên tàu cuối cùng, sau khi đã chắc chắn không còn ai ở dưới sân ga. Đây là thói quen mỗi khi đi cùng đoàn công tác có những người lớn tuổi, cô luôn âm thầm quan tâm, chăm sóc họ như đối với cha mẹ mình. Mai ngồi xuống ghế, đặt laptop lên chiếc bàn gấp, vừa kịp bắt gặp nụ cười thân thiện của người ngồi đối diện. Một người đàn ông ngoại quốc tầm tuổi Mai. Anh nói bằng tiếng Việt:

- Xin chào bạn.

- Chào anh. - Mai đáp lại rồi nhanh chóng mở máy tính như một dấu hiệu muốn dừng cuộc xã giao ở đó.

Cô trả lời các bức thư công việc, đọc lướt tin tức trên các trang báo lớn và cuối cùng là mở những tin nhắn chưa kịp đọc từ tối muộn hôm trước. Có một tin nhắn của mẹ gửi vào zalo: “Con ngủ sớm đi, mai đi tàu xe cẩn thận nhé”. Mai nhắn lại: “Con đang trên tàu, sắp chuyển bánh rồi mẹ ạ”.

Con tàu hú một hồi còi dài chào tạm biệt sân ga rồi từ từ lăn bánh trên đường ray. Tàu mới nên chạy khá êm. Nguyên hai toa tàu liền nhau được đặt vé cho các cựu binh đi từ Hà Nội vào ga Quảng Trị. Các cựu binh Việt Nam mặc những bộ quân phục cũ nhưng đều được giặt là cẩn thận, không ai đeo quân hàm, quân hiệu hay huân, huy chương. Đoàn cựu binh Mỹ có mười người, họ mặc thường phục với lý do không còn tìm lại được quân phục cũ. Khi tàu chuyển bánh, một sự im lặng bao trùm khắp toa tàu, mặc dù trước đó những người lính già còn rôm rả nhắc lại bao kỷ niệm cũ ngày lên đường vào mặt trận phía Nam. Nhìn những dãy nhà lướt qua cửa sổ tàu, bỗng dưng trong lòng Mai nghẹn lại. Hơn 50 năm trước, tại sân ga này, bố Mai và đồng đội đã mang theo những gì để đi vào vùng ác liệt nhất của chiến trận? Những giọt nước mắt chia ly hay nụ cười hi vọng có làm nhẹ bớt phần nào hành trang trên vai người lính trẻ? Và sân ga này đón được bao nhiêu người trở về?... Nước mắt chảy dài trên má Mai từ lúc nào. Người đối diện đưa cho cô tờ giấy ăn được gấp lại, ánh mắt của anh không còn tươi vui như lúc trước.

Tàu chạy qua ga Phủ Lý. Trong toa bắt đầu có tiếng xôn xao trở lại. Có người nhắc tên đồng đội cũ: “Thằng Tiến, thằng Kỳ lên ở ga này đấy. Vào mặt trận được nửa năm thì hi sinh mất một đứa…” Quá khứ lần lượt trở về qua hồi ức đoạn còn đoạn mất trong trí nhớ của những người lính già. Mai đã trấn tĩnh lại, mỉm cười với người đối diện. Một câu hỏi hướng về phía cô:

- Bạn thắc mắc tại sao tôi có mặt trong cuộc duyệt binh này phải không?

Mai cười thành tiếng:

- Anh rất thông minh. Đúng, đó là câu hỏi của tôi.

- Cha tôi là một cựu binh đã từng sang Việt Nam.

Câu chuyện giữa con của hai người lính được tiếp nối nhau bằng cả tiếng Anh và tiếng Việt, những đoạn bí từ, không diễn đạt được bằng ngôn ngữ thì họ vẽ ra giấy để diễn đạt khiến Mai cười phá lên khi xem những hình ảnh ngộ nghĩnh. Khi biết tên cô, người đàn ông nheo mắt hỏi:

- Mai có nghĩa là hoa mai hay ngày mai?

- Là ban mai. - Cô nói nghiêm túc - Bố tôi chọn đặt cái tên này cho con gái đầu lòng, bởi vì với những người lính, đón đợi và được thấy ban mai của mỗi ngày đã là một hạnh phúc lớn. Chiến tranh, làm sao nói trước được điều gì… Còn tên anh, Mike?

- Cha tôi muốn một cái tên dễ viết, dễ nhớ và gọi lên một cách dịu dàng.

Mai được biết thêm Mike đang ở Việt Nam hoàn tất công trình nghiên cứu về lịch sử. Anh biết chuyến đi này qua một người bạn của cha anh và xin được tham gia với tư cách con của một cựu binh ở phía “bên kia”. Tàu qua Thanh Hoá vào giờ ăn trưa, những suất cơm dành cho hai toà tàu chở các cựu binh có phần đặc biệt hơn hành khách khác. Phần cơm nắm hình tròn ấn dẹt được cắt thành miếng nhỏ, đồ ăn kèm rất phong phú, mỗi thứ chỉ một chút: muối vừng, thịt hộp, mắm tép chưng thịt, dưa góp, thanh lương khô nhỏ và một quả táo xanh tráng miệng. Mike có vẻ không xa lạ gì với những món ăn dân dã này. Anh giải thích: Những ngày đi điền dã ở các vùng xa khu dân cư, anh hay mua cơm nắm của mấy chị mang từ làng Lạc Đạo sang Hà Nội bán làm đồ ăn dự trữ và cũng không thể thiếu lương khô. Mike hào hứng chia sẻ “kiến thức” về các loại lương khô rất đa dạng được sản xuất ở Việt Nam. Anh hóm hỉnh nhận xét: “Lương khô trong một đất nước hoà bình là món đồ ăn vặt của giới trẻ nên rất ngon. Họ ăn xong để đi chơi, đi yêu nhau chứ không phải đi bắn nhau.” Mai bật cười trước nhận xét đó, nhưng bất chợt cả hai sững lại nhìn nhau im lặng như cảm thấy vừa phạm phải điều gì cấm kị.

 

 

Tàu dừng lại ở ga Quảng Trị đã gần 8 giờ tối. Mấy chiếc xe 45 chỗ đời mới đã đứng xếp hàng ngay ngắn đợi sẵn phía ngoài cửa ga. Đoàn cựu binh như vẫn giữ nguyên kỷ luật thời chiến, đi theo hàng dọc tiến đến từng xe, kiểm đếm quân số và báo cáo với trưởng đoàn, khi nhận lệnh: “Xuất phát” mới bắt đầu chuyển bánh về khách sạn.

Sau bữa tối, Mai dành thời gian lên kế hoạch cho các tin, bài sẽ viết theo dọc hành trình để kịp đăng lên báo điện tử. Mai khá bận rộn, cô vừa đảm nhiệm vị trí thư ký ban biên tập, vừa là phóng viên trực tiếp đi theo các sự kiện lớn để viết tin bài nên luôn phải chủ động làm tất cả các công việc: chụp ảnh, viết bài, biên tập, đăng bài và xử lý các vấn đề kỹ thuật. Sếp của Mai là một nhà văn nổi tiếng với những tiểu thuyết viết về chiến tranh, ông trở về từ chiến trận và luôn đau đáu những nợ nần với đồng đội đã nằm lại chiến trường. Nhưng cuộc duyệt binh giữa thời bình ông lại không thể có mặt vì phải thực hiện một chuyến đi khác…

 

***

Mai thức dậy trước khi điện thoại báo thức. Cô chuẩn bị máy ảnh, ghi âm, kiểm tra lại túi đồ nghề một lần nữa rồi xuống phòng ăn sáng tự chọn. Nhìn quanh, chỉ còn một ghế trống ở bàn Mike đang ngồi. Cô bê đĩa thức ăn đến đó, gật đầu chào anh. Có vẻ như Mike cũng đã dậy rất sớm, trước mặt anh không có đồ ăn mà chỉ còn cốc trà xanh nóng pha đậm.

Đoàn xe tiến về Gio Linh. Các cựu binh sẽ đến viếng nghĩa trang Trường Sơn. Mike giúp Mai xếp túi đồ lên giá để hàng, hai người ngồi ở ghế cuối cùng trên xe. Không có ai trò chuyện hay cười đùa như ngày hôm qua, những người lính già chìm vào suy tưởng trong suốt quãng đường. Đến cổng nghĩa trang, họ chỉnh lại trang phục, đầu tóc gọn gàng và xếp thành hai hàng dọc tiến đến lễ đài. Tiếng trưởng đoàn hô lớn: “Các đồng chí chú ý, hai hàng ngang tập hợp.” Các nghi lễ dâng hương được tiến hành trang nghiêm và kính cẩn. Chỉ đến khi nhạc hiệu “Hồn tử sĩ” vang lên thì những tiếc nấc không kiềm chế được đã bật ra đồng loạt. Những người lính cũ khóc thành tiếng, gọi tên bạn mình, tên đồng đội… Đôi vai nhỏ của Mai run lên từng chập. Con số hơn một vạn liệt sỹ nằm lại trên đất Gio Linh khiến cô bật khóc nức nở. Mai đã từng đến thăm nhiều nghĩa trang liệt sĩ, nhưng chưa bao giờ đứng trước ngàn ngàn ngôi mộ như thế này. Sau nghi lễ, các cựu binh toả đến những dãy mộ để thắp hương. Mai nhớ đến nhiệm vụ của mình, cô mở máy ảnh, tìm những góc chụp tốt nhất để phục vụ cho bài viết. Chợt ngón tay bấm nút chụp của Mai cứng lại khi nhìn qua khung hình, một người lính Mỹ tóc bạch kim, dáng người cao lớn đang đứng cúi đầu im lặng trước một ngôi mộ, hai tay ông chắp lại với một bó hương đỏ rực. Mai nhận ra đó là một nhà thơ đã nhiều lần đến Việt Nam và đã từng đón tiếp nhiều nhà văn, nhà thơ từ Việt Nam sang Mỹ. Ông được coi là một sứ giả nối lại quan hệ giữa hai quốc gia bằng chiếc cầu văn hoá. Ông đứng rất lâu trước ngôi mộ, như hoá đá, chỉ có hai hàng nước mắt giàn dụa trên mặt. Mai hạ máy ảnh xuống. Cô không muốn gây ra bất kì tiếng động nào phá vỡ giây phút mặc niệm của người lính đó, cho dù nếu chụp cận cảnh, cô sẽ có một bức ảnh đắt giá cho bài viết của mình.

Một cơn gió mạnh tạt đến, Mai như thấy tên quê hương mình vang lên ở đâu đó. Có thể ở ngay trong nghĩa trang này đang có những người cùng quê mình nằm lại. Mai cuống cuồng chạy về phía trước, những biển ghi tên các tỉnh: Thái Bình, Hà Nam, Hải Dương, Bắc Ninh… lướt qua trước mặt. Mai dừng lại khi thấy một đám trẻ nhỏ tầm 7 - 8 tuổi đang thắp hương trên các ngôi mộ, vừa thở dốc vừa hỏi: “Các cháu ơi, khu vực mộ của liệt sĩ Hà Tây ở đâu?” Đám trẻ chỉ cho Mai hướng đi và châm cho cô một bó hương: “Cô cầm hương đi thắp mộ ạ.” Mai chạy như bay, vừa khóc vừa khấn: “Con xin các cô các chú các bác là liệt sĩ của quê hương xứ Đoài sống khôn thác thiêng đưa đường chỉ lối cho con đến được nơi nằm của mình. Con lần đầu tiên đến đây, con chưa biết đường đi lối lại…” Đang chạy, Mai có cảm giác mình bị giữ khựng lại, cô đi thêm vài bước và dừng trước một ngôi mộ. Dòng chữ dưới cùng của bia mộ ghi: “Ba Vì - Hà Tây” đập vào mắt cô. Mai cắm bó hương lên mộ và quỳ hẳn xuống để đọc thông tin trên tấm bia. Họ và tên đệm của liệt sĩ trùng với dòng họ nội của Mai, năm sinh trùng với bố Mai, làng quê đúng là nguyên quán ghi trên căn cước của cô. Như có một luồng điện chạy qua người, Mai khấn: “Thưa chú, cháu chưa từng biết chú, nhưng cháu tin chắc chú là họ hàng của cháu. Cháu đã vào đến đây, đã tìm được chú thế này, cháu xin cúi đầu tri ân sự hi sinh của chú. Cháu mong chú an nghỉ và thanh thản. Thế hệ chúng cháu sẽ không bao giờ phụ công ơn của các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống…” Bó hương bỗng bùng cháy. Mai bật khóc. Cô lấy điện thoại gọi về cho bố, hỏi có phải trong họ nội của mình có liệt sĩ Phạm Quang Hạ không? Bố Mai gấp gáp hỏi: “Con tìm thấy chú ở đâu? Bao nhiêu năm nay không ai biết chú nằm đâu để đi tìm…” Mai nói: “Con đang đứng trước mộ chú đây, bố ạ.” Đã nhiều lần Mai nghe bố kể về một người em họ cùng tuổi, chú ấy hiền lành còn bố thì táo tợn nhưng rất thân nhau. Bố lên đường nhập ngũ trước chú ấy vài tháng, khi mới vào chiến trường có viết cho nhau mấy bức thư, sau đó thì mất hẳn liên lạc. Ngày thống nhất thì chỉ còn một người trở về. Nhiều năm bố đi tìm thông tin của chú nhưng vẫn bặt vô âm tín.

Cô lấy máy ảnh chụp liên tục hàng chục kiểu. Gió tạt mạnh hơn, khói hương quẩn theo vòng xoáy lốc. Mai nghe có tiếng gọi: “Mai, đến giờ lên xe rồi.” Mike đứng cách cô một hàng mộ, mồ hôi túa ra chân tóc, chắc hẳn anh đã chạy tìm cô khá lâu. Anh tiến thêm vài bước, cầm lấy tay Mai: “Về thôi, Mai”. Bất chợt cơn xúc động trào lên, Mai vùng ra giật mạnh bàn tay lại, cô tuôn ra những lời gay gắt: “Về đâu? Anh có biết đây là ngôi mộ của chú tôi không? Bạn thân thuở nhỏ của bố tôi đó. Ai đã bắn chết chú ấy? Cha anh hay đồng đội của ông ấy? Tuổi trẻ của chú tôi, thanh xuân của bao nhiêu người Việt Nam bỏ lại ở nơi này. Anh có biết những người như chú tôi chưa kịp có người yêu không? Chưa từng có người yêu…” Mike đứng lặng, mái tóc rũ xuống như tàn cây vừa qua cơn bão quét, môi anh mấp máy: “Tôi xin lỗi, Mai. Tôi rất xin lỗi…” Mai đã qua cơn xúc động, cô lấy lại bình tĩnh, chắp tay trước ngôi mộ khấn nhỏ: “Cháu phải đi rồi. Chú ở lại nhé. Cháu sẽ về báo cho người nhà mình vào thăm chú.”

Mike lặng lẽ đi phía sau Mai ra nơi tập kết để lên xe. Những người lính già đang lần lượt lên ghế của mình. Ánh mắt ai cũng nặng trĩu nỗi buồn, họ tránh nhìn vào mắt nhau như sợ lại oà vỡ những cảm xúc đang cố kìm nén.

Bên dưới cửa chiếc xe cuối cùng, một nhà thơ Việt Nam đang đứng cùng nhà thơ Mỹ, ông đang rủ rỉ đọc bài thơ của mình: “…Ta già, địch cũng già rồi/ Dắt nhau đến trước ông Trời phân bua/ Trời cười đã biết hay chưa/ Thắng thua thì cũng đều thua ông Trời…” (*) Mai dịch nghĩa bài thơ sang tiếng Anh, Mike trở thành người “hiệu đính” tức thời. Nghe xong, cả bốn người cùng cười rộ lên khiến những người trên xe cùng ngó ra. Nhà thơ Việt Nam đọc to bài thơ lên một lần nữa: “Ta già, địch cũng già rồi…”

Đoàn cựu binh tiếp tục cuộc duyệt binh đặc biệt. Đêm nay, họ sẽ tiến hành một nghi lễ. Đó là nghi lễ thả hoa đăng trên dòng sông Thạch Hãn…

---

(*) Thơ Anh Ngọc.

Hà Nội, tháng 3/2025.

PTPL

 

 

 

 

 

Miễn phí vận chuyển

Giao hàng miễn phí cho mọi đơn hàng

Gói quà tặng

Đóng gói đẹp mắt, sẵn sàng làm quà

Chất lượng đảm bảo

Sách chính hãng, nội dung chọn lọc

Hỗ trợ trực tuyến

Tư vấn và hỗ trợ tận tình

Địa chỉ: Số 82 ngõ 116 Phố Nhân Hòa, Phường Thanh Xuân, TP Hà Nội, Việt Nam

  • Email: newwaytech.sale@gmail.com
  • Hotline: 0397. 940. 122